Từ làn điệu của người khiếm thị thế kỷ XIV đến di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Kho tàng văn hóa nghệ thuật độc đáo với giá trị nhân văn sâu sắc
Công cụ cổ vũ tinh thần
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hát xẩm không chỉ là nghệ thuật mà còn là phương tiện cổ vũ tinh thần chiến đấu.
Các nghệ nhân như cố NSƯT Hà Thị Cầu đã sử dụng làn điệu truyền thống để sáng tác những bài hát có nội dung khích lệ, động viên quần chúng, điển hình là bài "Theo Đảng trọn đời".
Xẩm còn được dùng trong tuyên truyền chính sách, vận động nhân dân và thậm chí xuất hiện cả xẩm địch vận nhằm làm suy yếu tinh thần kẻ thù.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, dưới tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, đời sống vật chất và tinh thần của con người không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Hát xẩm – một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam – từng giữ vai trò là phương tiện mưu sinh của người dân lao động, đặc biệt là người khiếm thị, nay không còn đảm nhiệm chức năng xã hội như trước. Thay vào đó, hát xẩm được nhìn nhận như một di sản văn hóa phi vật thể có giá trị lịch sử, nghệ thuật và nhân văn, cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh đời sống cộng đồng đương đại.
Trong thời đại mới, hát xẩm từng bước được đưa trở lại với cộng đồng thông qua các hoạt động biểu diễn tại lễ hội truyền thống, không gian văn hóa công cộng, phố đi bộ và các sự kiện nghệ thuật mang tính cộng đồng. Việc tổ chức biểu diễn hát xẩm tại các địa điểm này góp phần khôi phục không gian diễn xướng truyền thống, đồng thời mở rộng phạm vi tiếp cận của loại hình nghệ thuật này đối với công chúng.
Hát xẩm trong bối cảnh lễ hội và không gian công cộng không chỉ mang giá trị trình diễn nghệ thuật mà còn thực hiện chức năng tái hiện các giá trị văn hóa truyền thống, phản ánh đời sống xã hội, tư tưởng và tâm lý của người dân lao động trong lịch sử.
Việc đưa hát xẩm vào không gian công cộng còn góp phần thay đổi cách nhìn nhận của xã hội, từng bước xóa bỏ định kiến coi đây là loại hình nghệ thuật lạc hậu, đồng thời khẳng định vị trí của hát xẩm như một thành tố văn hóa có khả năng thích ứng với đời sống hiện đại.
Một trong những phương diện quan trọng trong việc phát huy giá trị của hát xẩm hiện nay là vai trò giáo dục đối với thế hệ trẻ. Hát xẩm được tích hợp vào các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ nghệ thuật dân gian, chương trình trải nghiệm sáng tạo tại trường học và các hoạt động giới thiệu tại bảo tàng văn hóa.
Thông qua quá trình tiếp cận và tìm hiểu hát xẩm, học sinh có điều kiện nhận thức sâu sắc hơn về lịch sử, đời sống xã hội và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nội dung lời ca hát xẩm phản ánh các chuẩn mực đạo lý, lối sống cộng đồng và tinh thần nhân văn.
Hình thành ý thức trân trọng di sản văn hóa và lòng tự hào dân tộc
Nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật và tư duy phản biện
Trước nguy cơ mai một do sự suy giảm số lượng nghệ nhân và sự gián đoạn trong quá trình truyền dạy, công tác truyền nghề được xác định là yếu tố then chốt trong bảo tồn và phát triển hát xẩm. Trong thời đại mới, các hoạt động truyền dạy hát xẩm được triển khai dưới nhiều hình thức:
Tổ chức các lớp đào tạo có hệ thống
Thành lập cộng đồng yêu thích xẩm
Triển khai các chương trình bảo tồn văn hóa
Lồng ghép vào chương trình nghệ thuật dân gian
Hoạt động truyền nghề không chỉ nhằm bảo tồn các làn điệu cổ, kỹ thuật biểu diễn và cách sử dụng nhạc cụ, mà còn góp phần lưu giữ tri thức dân gian, kinh nghiệm sống và giá trị tinh thần được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Thông qua công tác truyền nghề, một đội ngũ kế cận có kiến thức, kỹ năng và niềm đam mê với hát xẩm từng bước được hình thành, tạo nền tảng cho việc bảo tồn bền vững và phát triển sáng tạo loại hình nghệ thuật này.
Trong bối cảnh xã hội đương đại, hát xẩm không chỉ là di sản của quá khứ mà đã trở thành một bộ phận của đời sống văn hóa cộng đồng hiện đại. Việc kết hợp đồng bộ giữa biểu diễn, giáo dục và truyền nghề góp phần duy trì sự tồn tại và lan tỏa giá trị của hát xẩm trong xã hội.
Qua đó, hát xẩm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và làm phong phú đời sống tinh thần của người dân, đồng thời khẳng định khả năng thích ứng và phát triển của di sản văn hóa truyền thống Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững.
Mỗi làn điệu mang một màu sắc cảm xúc riêng biệt
Biểu diễn ở những góc chợ với giai điệu ngắn gọn, giản dị, có chút hóm hỉnh để thu hút nhiều người nghe.
Thể hiện chữ Hiếu. Ghi nhớ 10 điều khắc ghi công ơn của cha mẹ. Tiếng xẩm tha thiết, giàu cảm xúc, dễ chạm tới trái tim người nghe.
Đồng cảm với thân phận phụ nữ thời phong kiến, thuật lại những đau khổ, tủi nhục và phê phán thói xấu của chồng và xã hội.
Tiết tấu tươi vui kết hợp trống cơm. Nói về tình yêu đôi lứa, trào phúng, châm chọc thói hư tật xấu – từ trữ tình đến hài hước.
Mang nét trữ tình, duyên dáng, kết hợp sự vui tươi, nhịp nhàng của tình yêu đôi lứa, tuổi mới lớn.
Biểu diễn bởi một tập thể. Dùng trong công việc nông dân, hát hò lúc cấy cây để nâng cao tinh thần.
Nội dung thường than thở về cuộc đời, xã hội, những khó khăn cực khổ trong cuộc sống. Thường xuất hiện trong 1–5 đoạn của bài xẩm.
Lời tự than và ai oán, với giai điệu da diết, chậm rãi. Thường là các đoạn trong một bài Xẩm kéo dài vài khổ lời.
Phản ánh đời sống đô thị Hà Nội xưa, kể chuyện sinh hoạt thường ngày trên tàu điện với giọng châm biếm, dí dỏm, qua đó phê phán thói hư tật xấu và gửi gắm giá trị nhân văn.
Lời tự than và ai oán, với giai điệu da diết, chậm rãi. Thường là các đoạn trong một bài Xẩm kéo dài vài khổ lời.
Những bài hát xẩm đã đi vào lòng người và trở thành di sản văn hóa quý báu
NSƯT Hà Thị Cầu
Ca ngợi tinh thần bảo vệ quê hương, lên án nạn cướp bóc; thể hiện khát vọng về cuộc sống yên bình.
Tác giả: Dân gian
Phác hoạ khung cảnh chợ quê nhộn nhịp, tái hiện đời sống mua bán, nói chuyện, trao đổi của người dân – vừa vui tươi vừa chân chất.
Tác giả: Dân gian
Mô tả ba bậc đạo lý làm người: trung, hiếu, nghĩa; khuyên con người sống ngay thẳng, biết giữ gìn nhân phẩm.
Tác giả: Dân gian
Câu chuyện mang màu sắc hài hước về chuyện trai gái, đuổi – theo – tán tỉnh, vừa vui nhộn vừa phản ánh thói quen sinh hoạt của người dân.
Lời: Nguyễn Du
Thể hiện các đoạn tâm trạng của Thúy Kiều như chia ly, nỗi sầu, tình duyên trắc trở; xúc động và giàu chất tự sự.
Tác giả: Dân gian
Khắc hoạ khung cảnh mùa hè rộn ràng ở làng quê; tiếng ve, đồng ruộng, lao động – tạo không khí mộc mạc, tươi sáng.
Tác giả: Nguyễn Khuyến
Phản ánh và phê phán thói kiêu căng, ngạo mạn, coi thường người khác trong xã hội. Qua lời ca dân gian giàu tính châm biếm, bài xẩm lên án những kẻ ỷ quyền, ỷ thế, tự cho mình hơn người, đồng thời nhắc nhở con người phải sống khiêm nhường, biết tôn trọng người xung quanh và giữ gìn đạo lý làm người.
Hiện nay bài xẩm này được nghệ sĩ trẻ Soobin Hoàng Sơn phối lại, quay MV và được giới trẻ yêu thích
Tác giả: Phan Bội Châu
Là bài xẩm mang tính trào phúng, hài hước, mượn cuộc đối thoại tưởng tượng với con muỗi để châm biếm thói hư tật xấu của con người và những bất cập trong xã hội. Qua giọng hát dí dỏm, dân gian, bài xẩm vừa gây cười vừa gửi gắm thông điệp phê phán nhẹ nhàng, sâu cay, thể hiện trí tuệ và tinh thần phản biện của nghệ thuật xẩm.
Tác giả: Trần Trung Viên
Mang nội dung triết lý sâu sắc về cuộc sống, nhấn mạnh sự vô thường của đời người, khuyên răn con người sống thiện lương, không ham lợi danh, nhắc nhở về nguồn cội, và tôn vinh giá trị cội nguồn dân tộc.
Tác giả: Trần Trung Viên
Kể về thân phận người nghệ sĩ hát xẩm, vừa hát về những nỗi đời, vừa tự than thân trách phận, uất ức vì thân phận nghèo hèn, gánh nặng cơm áo gạo tiền, phải đi hát mua vui cho đời trong khi lòng đầy tâm sự, cảm giác bất lực trước xã hội phong kiến đầy bất công, thể hiện sự xót xa, mệt mỏi, và đôi khi là cả sự uất hận nhưng không thể bộc lộ hết, như một lời tự sự đầy cay đắng của người nghệ sĩ nghèo.
Tác giả: Trần Trung Viên
Khuyên răn con người biết suy ngẫm về cuộc đời và thời gian. Bài xẩm nhắc nhở khi còn trẻ cần sống có ý nghĩa, tu dưỡng đạo đức, tránh buông thả, bởi tuổi già đến nhanh, nếu không "nghĩ lại" sẽ dễ hối tiếc. Qua lời ca mộc mạc mà sâu sắc, tác phẩm gửi gắm bài học về lối sống đúng đắn và giá trị của việc tự soi xét bản thân.
Tác giả: Tản Đà
Chủ yếu phản ánh đời sống bình dân, làng quê Bắc Bộ, kể chuyện mưu sinh, tình yêu đôi lứa, đạo lý, châm biếm xã hội và ca ngợi quê hương, với ca từ mộc mạc, dễ hiểu, sử dụng các làn điệu dân ca, kết hợp thơ lục bát và thể biến thể, mang đậm dấu ấn của nhà thơ Tản Đà và văn hóa dân gian, thể hiện tâm tư người dân nghèo.
Tác giả: Tản Đà
Bài hát xẩm kể câu chuyện về con cá vàng nhỏ bé, hiền lành nhưng lại rơi vào cảnh bị bắt nạt, chèn ép, qua đó phản ánh thân phận yếu thế trong xã hội. Dưới hình thức lời xẩm dân gian gần gũi, Tản Đà mượn hình ảnh con cá vàng để nói về con người lương thiện nhưng chịu nhiều thiệt thòi, bất công.
Đằng sau giọng kể nhẹ nhàng, hóm hỉnh là nỗi xót xa cho cảnh đời nghèo khổ và lời phê phán kín đáo đối với xã hội cũ, nơi kẻ mạnh lấn át kẻ yếu, đồng thời nhắc nhở con người tìm về giá trị đích thực, không màng danh lợi phù phiếm mà quên đi gốc rễ của mình.
Tác giả: Tản Đà
Thể hiện nỗi than thân của người học trò nghèo. Tác giả nhớ lại cảnh mình cũng từng đi học nhưng số phận long đong, nay rơi vào cảnh đói rét, khốn khó, không nơi nương tựa. Qua hình ảnh gió mưa, chỗ xó rừng, bút nghiên cay đắng, bài thơ phản ánh con đường học hành gian truân, sự bất công của xã hội và nỗi chua xót của kẻ có chí mà không gặp thời, đồng thời gợi lên niềm cảm thương sâu sắc cho những phận người cơ cực.
Tác giả: Tản Đà
Qua hình ảnh đêm khuya ôm đàn gảy khúc cũ, tác giả gợi lại những kỷ niệm xưa, tình cảm đã xa, trong khi thực tại là sự lạnh lẽ, lạc lõng. Bài thơ bộc lộ tâm trạng chán chường, xót xa cho số phận hồng nhan và chính bản thân, đồng thời phản ánh nỗi niềm của người tài hoa nhưng không gặp thời, mang đậm chất trữ tình và ngậm ngùi.
Tác giả: Nguyễn Can Mộng
Thể hiện nỗi chờ đợi, cô đơn và day dứt trong tình yêu. Nhân vật trữ tình là người con gái ngồi đợi trong vô vọng, để thời gian trôi đi qua từng giờ, từng khoảnh khắc của nỗi nhớ, nỗi buồn và nước mắt. Bài thơ gợi cảm giác thời gian nặng nề, dài lê thê, xen lẫn hồi ức về những kỷ niệm yêu thương đã qua, trong khi hiện tại chỉ còn sự trống vắng.
Qua đó, tác phẩm bộc lộ nỗi đau của người phụ nữ trong tình duyên dang dở, thân phận mong manh trước sự bạc bẽ của cuộc đời và tình người, đồng thời gợi lên niềm xót xa, cảm thương sâu sắc cho những mối tình không trọn vẹn.
Tác giả: Trần Tuấn Khải
Bài thơ miêu tả cảnh người phụ nữ gánh nước trong đêm khuya tĩnh lặng. Không gian đêm tối, vắng vẻ làm nổi bật bước chân nặng nhọc và công việc âm thầm, lam lũ của con người lao động nghèo. Qua hình ảnh gánh nước, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ – phải chịu nhiều vất vả, cô đơn nhưng vẫn nhẫn nại, chịu đựng.
Đằng sau bức tranh sinh hoạt đời thường ấy còn là nỗi buồn thân phận và tiếng lòng cảm thương của nhà thơ trước cảnh đời cơ cực, qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo và cảm hứng hiện thực rõ nét trong thơ Trần Tuấn Khải.
Tác giả: Trần Tuấn Khải
Bài xẩm sử dụng hình ảnh lên núi Ba Vì – ngọn núi linh thiêng gắn với non sông đất nước – để bộc lộ tâm trạng suy tư, trăn trở của tác giả trước thời cuộc và cuộc sống nhiều biến động. Qua lời xẩm mộc mạc, tác phẩm thể hiện nỗi xót xa cho cảnh đời cơ cực của nhân dân, đồng thời gửi gắm khát vọng tìm đến chốn cao xa, trong sạch nhằm giữ gìn khí tiết và niềm tin. Bài xẩm vừa đậm chất dân gian, vừa chan chứa tinh thần yêu nước kín đáo và ý thức hướng về quê hương, dân tộc.
Tác giả: Tú Mỡ
Bài xẩm dùng giọng điệu hài hước, châm biếm để đả kích thói tham lam, hách dịch và vô trách nhiệm của tầng lớp quan lại trong xã hội cũ. Thông qua việc chơi chữ "quan lớn" với "quan lợn", tác giả mỉa mai những kẻ làm quan nhưng đạo đức thấp kém, chỉ biết ăn no, hưởng lợi, vơ vét của dân, coi thường dân chúng.
Đằng sau tiếng cười dân gian là thái độ phê phán sâu cay và tinh thần phản kháng xã hội rõ nét, thể hiện tiếng nói bức xúc của nhân dân trước nạn quan tham, đồng thời cho thấy đặc trưng thơ trào phúng sắc sảo của Tú Mỡ khi kết hợp văn học viết với làn điệu hát xẩm dân gian.
Tác giả: Tú Mỡ
Bài hát xẩm mượn thành ngữ "quýt làm cam chịu" để phản ánh sự bất công trong xã hội cũ, nơi kẻ có quyền gây tội nhưng người yếu thế lại phải gánh chịu hậu quả. Qua giọng xẩm dân gian giàu tính châm biếm, Tú Mỡ phê phán tầng lớp quan lại, cường hào gian ác, lộng quyền, xử sự bất minh, đổ lỗi cho dân nghèo.
Tác phẩm vừa mang tiếng cười mỉa mai, vừa chứa đựng nỗi xót xa cho thân phận người lao động thấp cổ bé họng, thể hiện tinh thần trào phúng sắc bén và thái độ lên án mạnh mẽ những thói hư tật xấu, bất công của xã hội phong kiến.
Giới trẻ đang góp phần hồi sinh và phát triển hát xẩm với cách tiếp cận sáng tạo và hiện đại
Từ những gánh xẩm rong trên phố chợ xưa đến các sân khấu hiện đại, từ làn điệu truyền thống đến âm nhạc kết hợp đương đại – hát xẩm đang tái sinh với sức sống mới, thu hút và kết nối mọi thế hệ.
Tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm, làn điệu và các bài hát xẩm nổi tiếng